Câu Gốc Mỗi Ngày 25/3/2026
🌿 CẦU NGUYỆN BUỔI SÁNG
Lạy Cha thánh, Con cảm tạ Ngài vì ngày hôm nay mà Ngài đã ban cho con. Con cần sự thương xót của Ngài mỗi ngày. Con cần sự bảo vệ của Ngài mỗi ngày. Ngài là Đấng thành tín đời đời, đầy dẫy tình yêu và hoàn toàn thánh khiết.
Lời Ngài trong Khải Huyền đoạn 4 câu 8 phán rằng:
“Thánh thay, thánh thay, thánh thay, Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng, ĐẤNG ĐÃ CÓ, HIỆN CÓ VÀ ĐANG ĐẾN!”
Lạy Cha, đó chính là tấm lòng của con hôm nay. Xin ban cho con một tấm lòng thờ phượng, nhận biết sự thành tín của Ngài từ thuở ban đầu. Mọi vinh hiển và tôn kính đều thuộc về Ngài, Đấng ngự trên ngai.
Lời Ngài cũng phán trong Khải Huyền đoạn 4 câu 11 rằng:
“Lạy Đức Chúa Trời là Chúa của chúng con, Chúa đáng được vinh quang, tôn trọng và uy quyền, Vì Chúa đã tạo dựng muôn vật, Và do ý muốn của Chúa mà muôn vật hiện hữu và được tạo dựng.”
Lạy Cha, không ai có quyền năng như Ngài. Con đặt trọn hy vọng, ước mơ và cả đời sống con trong tay Ngài. Con cầu nguyện trong danh Chúa Giê-xu. A-men.
Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức mạnh của chúng con, Ngài hằng giúp đỡ trong cơn hoạn nạn.
Thi Thiên đoạn 46 câu 1
Tác giả Marcus Stanley
🙏 LỜI CẦU NGUYỆN HÔM NAY
Mike Malagies
🛍️ GIAN HÀNG SHOPEEKinh Thánh Bản Dịch Mới (NVB) – dễ hiểu, gần gũiĐây là bản dịch được nhiều Cơ Đốc nhân yêu thích vì là bản dịch được biên soạn dựa trên các bản Kinh Thánh gốc Hê-bơ-rơ và Hy Lạp, với ngôn ngữ hiện đại, dễ hiểu, phù hợp cho việc đọc và học mỗi ngày.Phù hợp cho việc học Kinh Thánh, cầu nguyện và suy ngẫm Lời Chúa.Đừng quên app thêm mã giảm tại phần thanh toán đế được giảm thêm, mua ở link này để được trợ giá tốt ạ
👉 Xem thêm gian hàng Shopee
✨ SỨ ĐIỆP HÔM NAY
Trong một thế giới xem độc thân như “phòng chờ”, Kinh Thánh lại bày tỏ một góc nhìn hoàn toàn khác: độc thân không phải là thiếu sót — mà có thể là một ân tứ từ Đức Chúa Trời. Dựa trên I Cô-rinh-tô đoạn 7, video này giúp bạn hiểu rõ: • Ân tứ độc thân thật sự là gì • 7 dấu hiệu cho thấy bạn có thể đang mang ân tứ này • Cách sống đúng và quản trị mùa độc thân • Và phải làm gì nếu bạn khao khát hôn nhân
🌙 CẦU NGUYỆN BUỔI TỐI
Tác giả Marcus Stanley
Lạy Cha đầy ân điển, Con cảm tạ Ngài vì sự thương xót và ân điển của Ngài, và vì đã đưa con đi qua thêm một ngày nữa.
Con cầu xin Đức Thánh Linh ở cùng con. Tâm trí con cần sự bình an của Ngài để được yên lặng lại, và con cầu xin được nghỉ ngơi trong sự bình an siêu nhiên mà chỉ mình Ngài có thể ban cho.
Xin giúp con buông bỏ những điều con đáng lẽ phải buông bỏ từ hôm nay, mọi điều làm phiền lòng con. Xin giúp con giải tỏa mọi sự bực bội và những cảm xúc thất vọng trong lòng.
Dù ngày mai ở trong tay Ngài, con cầu xin Ngài ban cho con sức mạnh và ân điển để khi con thức dậy, lòng con không còn mang theo sự tiếc nuối hay nỗi đau của ngày hôm nay.
Lời Ngài trong Thi Thiên đoạn 30 câu 5 phán rằng:
Vì cơn giận của Ngài chỉ trong chốc lát, Còn ân huệ của Ngài hằng có trọn đời.
Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, Nhưng buổi sáng liền có sự vui mừng.
Lạy Cha, khi con chuẩn bị nghỉ ngơi, con cầu xin niềm vui ấy ngự trong lòng con ngay từ đêm nay. Con cầu nguyện trong danh Chúa Giê-xu. A-men.
Nhưng phải cầu xin bằng đức tin, không chút nghi ngờ, vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió dập dồi và cuốn đi đây đó. Gia-cơ đoạn 1 câu 6
📌 SỨ ĐIỆP NGẮN
Mike Malagies
Đừng đi ngủ mà chưa nói 3 điều này với Đức Chúa Trời
Mike Malagies
📖 LỊCH ĐỌC KINH THÁNH
Giô-suê 19
Địa phận của bộ tộc Si-mê-ôn1Bộ tộc thuộc con cháu Si-mê-ôn bắt thăm được phần đất thứ nhì theo từng gia tộc của họ. Sản nghiệp của bộ tộc nầy ở giữa sản nghiệp của con cháu Giu-đa. 2Sản nghiệp của bộ tộc Si-mê-ôn gồm có: Bê-e Sê-ba, Sê-ba, Mô-la-đa, 3Hát-sa Su-anh, Ba-la, Ê-xem, 4Ên-thô-lát, Bê-thu, Họt-ma, 5Xiếc-lác, Bết Ma-ca-bốt, Hát-sa Su-sa, 6Bết Lê-ba-ốt, và Sê-a-ru-chen: tất cả là mười ba thành cùng các làng mạc của chúng. 7A-in, Rim-môn, Ê-the, và A-san. Tất cả là bốn thành cùng các làng mạc của chúng, 8bao gồm tất cả các thị trấn chung quanh những thành ấy cho đến Ba-lát Bê-e, tức là Ra-ma ở miền Nê-ghép. Đó là sản nghiệp của bộ tộc Si-mê-ôn theo từng gia tộc của họ. 9Sản nghiệp của con cháu Si-mê-ôn lấy từ phần đất của người Giu-đa vì phần đất của con cháu Giu-đa rất rộng. Như vậy, con cháu Si-mê-ôn được sản nghiệp giữa phần đất của con cháu Giu-đa.Địa phận của bộ tộc Sa-bu-lôn10Con cháu của Sa-bu-lôn bắt thăm được phần đất thứ ba theo từng gia tộc của họ. Ranh giới của họ chạy đến Sa-rít. 11Ranh giới đi lên phía tây về hướng Ma-rê-a-la, gặp Đáp-bê-sết rồi đến suối đối diện Giốc-nê-am. 12Từ Sa-rít, ranh giới vòng qua hướng đông, tức hướng mặt trời mọc, tiếp giáp Kít-lốt Tha-bô, rồi đi về hướng Đáp-bê-rát, và lên đến Gia-phia. 13Từ đó, nó chạy về phía đông, tức hướng mặt trời mọc đến Gát Hê-phe và Ết Cát-sin, đi vòng qua Nê-a rồi đến Rim-môn. 14Sau đó, ranh giới ấy vòng lên phía bắc về hướng Ha-na-thôn rồi dừng lại ở thung lũng Díp-thách Ên. 15Nó gồm có các thành Cát-tát, Na-ha-la, Sim-rôn, Di-đê-a-la, và Bết-lê-hem. Tất cả là mười hai thành với các làng mạc của chúng. 16Các thành nầy cùng các làng mạc của chúng là sản nghiệp của người Sa-bu-lôn theo từng gia tộc của họ.Địa phận của bộ tộc Y-sa-ca17Con cháu Y-sa-ca bắt thăm được phần đất thứ tư theo từng gia tộc của họ. 18Ranh giới của họ chạy đến Gít-rê-ên, Kê-su-lốt, Su-nem, 19Ha-pha-ra-im, Si-ôn, A-na-cha-rát, 20Ra-bít, Ki-si-ôn, Ê-bết; 21Rê-mết, Ên Ga-nim, Ên Ha-đa, và Bết Phát-sết. 22Ranh giới nầy gặp Tha-bô, Sa-chát-si-ma, và Bết Sê-mết, rồi dừng lại ở sông Giô-đanh. Tất cả là mười sáu thành với các làng mạc của chúng. 23Các thành nầy với những làng mạc của chúng là sản nghiệp của con cháu Y-sa-ca theo từng gia tộc của họ.Địa phận của bộ tộc A-se24Bộ tộc thuộc con cháu A-se bắt thăm được phần đất thứ năm, theo từng gia tộc của họ. 25Ranh giới nầy bao gồm: Hên-cát, Ha-li, Bê-ten, Ạc-sáp, 26A-lam-mê-léc, A-mê-át, và Mi-sê-anh. Phía tây gặp Cạt-mên và khe Líp-nát 27rồi vòng qua phía mặt trời mọc, hướng về Bết Đa-gôn, gặp Sa-bu-lôn và thung lũng Díp-thách Ên ở về phía bắc Bết Ê-méc và Nê-i-ên, rồi chạy qua Ca-bun về phía trái, 28đến Ếp-rôn, Rê-hốp, Ham-môn, Ca-na cho đến thành lớn Si-đôn. 29Ranh giới nầy lại vòng về Ra-ma cho đến thành kiên cố Ty-rơ rồi chạy đến Hô-sa và dừng lại ở biển, trong vùng Ạc-xíp, 30U-ma, A-phéc, và Rê-hốp. Tất cả là hai mươi hai thành cùng các làng mạc của chúng. 31Các thành nầy và những làng mạc của chúng là sản nghiệp của con cháu thuộc bộ tộc A-se theo từng gia tộc của họ.Địa phận của bộ tộc Nép-ta-li32Con cháu bộ tộc Nép-ta-li bắt thăm được phần đất thứ sáu theo từng gia tộc của họ. 33Ranh giới của họ chạy từ Hê-lép, từ cây sồi ở Sa-na-nim, về hướng A-đa-mi Nê-kép và Giáp-nê-ên cho đến Lạc-cum rồi dừng lại ở sông Giô-đanh. 34Sau đó, ranh giới nầy vòng về phía tây, đi đến Át-nốt Tha-bô rồi từ đó chạy về Hục-cốc. Phía nam giáp địa phận Sa-bu-lôn, phía tây giáp địa phận A-se và Giu-đa, phía mặt trời mọc giáp sông Giô-đanh. 35Các thành kiên cố là: Xi-đim, Xe-rơ, Ha-mát, Ra-cát, Ki-nê-rết, 36A-đa-ma, Ra-ma, Hát-so, 37Kê-đe, Ết-rê-i, Ên Hát-so, 38Gi-rê-ôn, Mít-đa-ên, Hô-rem, Bết A-nát, và Bết Sê-mết. Tất cả là mười chín thành cùng các làng mạc của chúng. 39Các thành nầy với những làng mạc của chúng là sản nghiệp của bộ tộc thuộc con cháu Nép-ta-li theo từng gia tộc của họ.Địa phận của bộ tộc Đan40Con cháu thuộc bộ tộc Đan bắt thăm được phần đất thứ bảy theo từng gia tộc của họ. 41Ranh giới của họ gồm Xô-rê-a, Ết-tha-ôn, Yết Sê-mết, 42Sa-la-bin, A-gia-lôn, Gít-la, 43Ê-lôn, Thim-na-tha, Éc-rôn, 44Ên-the-kê, Ghi-bê-thôn, Ba-lát, 45Giê-hút, Bê-nê Bê-rác, Gát Rim-môn, 46Mê Giạt-côn, và Ra-côn, cùng với phần đất đối diện Gia-phô. 47Khi địa phận của Đan bị xâm lấn, người Đan đi lên tiến đánh Lê-sem, dùng gươm diệt thành ấy, chiếm nó làm sản nghiệp và định cư tại đó, rồi gọi thành Lê-sem là Đan theo tên tổ phụ của họ. 48Các thành nầy cùng với các làng mạc của chúng là sản nghiệp của bộ tộc Đan, theo từng gia tộc của họ.Sản nghiệp của Giô-suê49Khi đã được chia đất theo từng địa phận rồi, dân Y-sơ-ra-ên lấy một phần sản nghiệp ở giữa họ mà cấp cho Giô-suê, con trai của Nun. 50Dân Y-sơ-ra-ên tuân lệnh Đức Giê-hô-va cấp cho ông cái thành mà ông xin, là thành Thim-nát Sê-rách trong núi Ép-ra-im. Ông xây dựng thành và định cư tại đó.51Đó là các sản nghiệp mà thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai của Nun, và các trưởng gia tộc của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên bắt thăm phân phát tại Si-lô, tại Lều Hội Kiến trước mặt Đức Giê-hô-va. Như vậy họ hoàn tất việc phân chia đất.
Giô-suê 20
Sáu thành trú ẩn1Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: 2“Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên lập các thành trú ẩn mà Ta đã phán với các con qua Môi-se 3để cho kẻ vô ý giết người có thể trốn ở nơi ấy. Các thành đó sẽ là nơi ẩn lánh khỏi kẻ đòi nợ máu. 4Kẻ ngộ sát sẽ chạy trốn đến một trong các thành ấy, đứng nơi cổng thành, trình bày sự việc cho các trưởng lão của thành ấy nghe. Các trưởng lão sẽ tiếp nhận người ấy vào thành, chỉ định một chỗ và người ấy sẽ ở đó với họ. 5Nếu kẻ đòi nợ máu đuổi theo, các trưởng lão chớ nộp kẻ ngộ sát vào tay người ấy, vì kẻ sát nhân làm thiệt mạng người lân cận mình chỉ vì vô ý chứ không phải trước kia có hận thù gì với người nầy. 6Kẻ ngộ sát phải ở trong thành ấy cho đến khi được xét xử trước hội chúng, và cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm đương chức qua đời. Khi đó, kẻ ngộ sát sẽ trở về thành và nhà mình, tức là thành mà mình đã trốn khỏi.”7Vậy dân Y-sơ-ra-ên biệt riêng thành Kê-đe ở Ga-li-lê, trên núi Nép-ta-li, thành Si-chem trên núi Ép-ra-im và thành Ki-ri-át A-ra-ba, tức là Hếp-rôn, trên vùng đồi núi Giu-đa. 8Vùng bên kia sông Giô-đanh, phía đông thành Giê-ri-cô, họ chỉ định thành Bết-se trong hoang mạc, trên cao nguyên thuộc bộ tộc Ru-bên, thành Ra-mốt ở vùng Ga-la-át, thuộc bộ tộc Gát và thành Gô-lan ở vùng Ba-san, thuộc bộ tộc Ma-na-se. 9Đó là các thành được chỉ định cho toàn dân Y-sơ-ra-ên và cho ngoại kiều cư trú tại đó để người nào vô ý làm thiệt mạng ai có thể trú ẩn ở đó mà không bị tay kẻ đòi nợ máu giết chết trước khi được đưa ra trước hội chúng.
Giô-suê 21
Bốn mươi tám thành được cấp cho người Lê-vi1Bấy giờ, các trưởng gia tộc người Lê-vi đến với thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai của Nun và các trưởng gia tộc của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, 2và nói với họ tại Si-lô trong xứ Ca-na-an rằng: “Đức Giê-hô-va đã truyền bảo Môi-se cấp cho chúng tôi các thành để ở và các đồng cỏ chung quanh dùng cho súc vật chúng tôi.” 3Vậy dân Y-sơ-ra-ên vâng lệnh Đức Giê-hô-va, lấy trong sản nghiệp của họ những thành sau đây và những đồng cỏ chung quanh mà cấp cho người Lê-vi.4Các gia tộc Kê-hát bắt thăm được phần của mình: Con cháu của thầy tế lễ A-rôn về dòng Lê-vi bắt thăm được mười ba thành từ bộ tộc Giu-đa, bộ tộc Si-mê-ôn, và bộ tộc Bên-gia-min.5Con cháu khác của Kê-hát bốc thăm được mười thành từ bộ tộc Ép-ra-im, bộ tộc Đan, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se.6Con cháu Ghẹt-sôn bốc thăm được mười ba thành từ bộ tộc Y-sa-ca, bộ tộc A-se, bộ tộc Nép-ta-li, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se ở Ba-san.7Con cháu Mê-ra-ri, theo từng gia tộc của họ, được mười hai thành từ bộ tộc Ru-bên, bộ tộc Gát, và bộ tộc Sa-bu-lôn.8Dân Y-sơ-ra-ên bắt thăm cấp cho người Lê-vi các thành kể trên với các đồng cỏ chung quanh, đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền phán qua Môi-se.9Dân Y-sơ-ra-ên lấy các thành có tên sau đây thuộc bộ tộc Giu-đa và bộ tộc Si-mê-ôn mà cấp cho họ. 10Con cháu A-rôn thuộc các gia tộc Kê-hát, là con trai Lê-vi, được các thành ấy, vì thăm trúng về họ trước tiên. 11Người ta cấp cho họ thành Ki-ri-át A-ra-ba, (A-ra-ba là cha của A-nác), tức là Hếp-rôn ở trên núi Giu-đa, và các đồng cỏ chung quanh nó. 12Còn các cánh đồng của thành và các làng mạc của nó thì được cấp cho Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, làm sản nghiệp.13Người ta cấp cho con cháu thầy tế lễ A-rôn thành Hếp-rôn, là thành trú ẩn cho kẻ ngộ sát, và các đồng cỏ chung quanh; Líp-na và các đồng cỏ chung quanh; 14Giạt-thia và các đồng cỏ chung quanh; Ếch-tê-mô-a và các đồng cỏ chung quanh; 15Hô-lôn và các đồng cỏ chung quanh; Đê-bia và các đồng cỏ chung quanh; 16A-in và các đồng cỏ chung quanh; Giu-ta và các đồng cỏ chung quanh; Bết Sê-mết và các đồng cỏ chung quanh. Đó là chín thành của hai bộ tộc nầy. 17Người ta cũng lấy các thành từ bộ tộc Bên-gia-min mà cấp cho họ. Đó là thành Ga-ba-ôn và các đồng cỏ chung quanh; thành Ghê-ba và các đồng cỏ chung quanh; 18thành A-na-tốt và các đồng cỏ chung quanh; thành Anh-môn và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành. 19Các thành của những thầy tế lễ, con cháu A-rôn, tất cả là mười ba thành với các đồng cỏ chung quanh.20Những người Lê-vi thuộc các gia tộc khác của Kê-hát nhận được các thành thuộc bộ tộc Ép-ra-im làm sản nghiệp. 21Người ta cấp cho họ thành Si-chem là nơi trú ẩn cho kẻ ngộ sát, ở trên núi Ép-ra-im, và các đồng cỏ chung quanh; thành Ghê-xe và các đồng cỏ chung quanh; 22thành Kíp-sa-im và các đồng cỏ chung quanh; thành Bết Hô-rôn và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành. 23Người ta lấy các thành từ bộ tộc Đan mà cấp cho họ: đó là thành Ên-the-kê và các đồng cỏ chung quanh; thành Ghi-bê-thôn và các đồng cỏ chung quanh; 24thành A-gia-lôn và các đồng cỏ chung quanh; thành Gát-rim-môn và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành. 25Người ta cũng lấy các thành từ phân nửa bộ tộc Ma-na-se: đó là thành Tha-a-nác và các đồng cỏ chung quanh; thành Gát Rim-môn và các đồng cỏ chung quanh. 26Tổng cộng là mười thành và các đồng cỏ chung quanh được cấp cho những gia tộc còn lại thuộc dòng Kê-hát.27Người ta cũng lấy các thành từ phân nửa bộ tộc Ma-na-se. Đó là thành Gô-lan ở xứ Ba-san, là thành trú ẩn cho kẻ ngộ sát mà cấp cho con cháu Ghẹt-sôn thuộc về gia tộc Lê-vi, cùng các đồng cỏ chung quanh thành; Bết-ê-ra cùng các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành. 28Người ta cũng lấy các thành bộ tộc Y-sa-ca, đó là thành Ki-si-ôn và các đồng cỏ chung quanh; Đáp-bê-rát và các đồng cỏ chung quanh; 29thành Giạt-mút và các đồng cỏ chung quanh; Ên Ga-nim và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành. 30Người ta cũng lấy các thành thuộc bộ tộc A-se, đó là Mi-sê-anh và các đồng cỏ chung quanh; Áp-đôn và các đồng cỏ chung quanh; 31thành Hên-cát và các đồng cỏ chung quanh; thành Rê-hốp và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành. 32Người ta cũng lấy các thành từ bộ tộc Nép-ta-li, đó là thành Kê-đe ở Ga-li-lê, là thành trú ẩn cho kẻ ngộ sát và các đồng cỏ chung quanh; thành Ha-mốt Đô-rơ và các đồng cỏ chung quanh; thành Cạt-than và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là ba thành. 33Tổng cộng các thành của người Ghẹt-sôn, theo từng gia tộc, là mười ba thành với các đồng cỏ chung quanh.34Người ta cũng lấy các thành từ bộ tộc Sa-bu-lôn mà cấp cho những gia tộc Mê-ra-ri, tức là những người Lê-vi còn lại. Đó là thành Giốc-nê-am và các đồng cỏ chung quanh; thành Cạt-ta và các đồng cỏ chung quanh; 35Thành Đim-na và các đồng cỏ chung quanh; thành Na-ha-la và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành. 36Người ta cũng lấy từ bộ tộc Ru-bên các thành, đó là thành Bết-se và các đồng cỏ chung quanh; thành Giát-sa và các đồng cỏ chung quanh; 37thành Kê-đê-mốt và các đồng cỏ chung quanh; thành Mê-phát và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành. 38Người ta cũng lấy từ bộ tộc Gát các thành, đó là Ra-mốt ở xứ Ga-la-át, là thành trú ẩn cho kẻ ngộ sát, và các đồng cỏ chung quanh; thành Ma-ha-na-im và các đồng cỏ chung quanh; 39thành Hết-bôn và các đồng cỏ chung quanh; thành Gia-ê-xe và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành. 40Tổng cộng các thành cấp cho các gia tộc Mê-ra-ri, tức là phần còn lại của các gia tộc thuộc Lê-vi, là mười hai thành.41Tổng cộng các thành của người Lê-vi ở giữa sản nghiệp dân Y-sơ-ra-ên là bốn mươi tám thành cùng các đồng cỏ chung quanh. 42Mỗi thành ấy đều có các đồng cỏ chung quanh và tất cả thành ấy đều giống như vậy.43Như vậy, Đức Giê-hô-va ban cho Y-sơ-ra-ên cả xứ mà Ngài đã thề hứa với tổ phụ họ. Họ chiếm hữu và định cư ở đó. 44Đức Giê-hô-va ban cho bốn phía đều được yên ổn, đúng như Ngài đã thề với tổ phụ họ, không một kẻ thù nào đứng nổi trước mặt họ. Đức Giê-hô-va phó tất cả kẻ thù vào tay họ. 45Trong mọi lời hứa tốt lành mà Đức Giê-hô-va đã ban cho nhà Y-sơ-ra-ên, chẳng có một lời nào là vô hiệu. Tất cả đều được ứng nghiệm.
Lu-ca 2
Tham gia nhóm Zalo để nhận Câu Gốc và bài cầu nguyện mỗi ngày 🙏
Tham gia ngay
❌ Đóng


Nhận xét
Đăng nhận xét
Bạn được chạm đến điều gì hôm nay? Hãy chia sẻ để cùng gây dựng đức tin cho nhau nhé ❤️